Hoạt chất trị tăng sắc tố da

Hydroquinone

Hydroquinone (HQ) là giải pháp vàng trong điều trị chứng tăng sắc tố trong hơn 50 năm qua, đặc biệt hiệu quả với nám và có nhiều trong lúa mì, trà, quả mọng, bia, cà phê. HQ là hợp chất thuộc vòng phenol có đích tác động là các melanocyte và tyrosinase hoạt hóa, không hữu hiệu trong việc điều chỉnh màu sắc của melanin đã hiện hữu sẵn trên lớp biểu bì. Sự tương đồng về cấu trúc giữa HQ và tiền thân của melanin đã giúp cho HQ kết hợp được với histidine hoặc phân tử đồng ở vị trí hoạt động của enzym tyrosinase và ức chế hoạt động của enzym này. Hơn nữa, HQ tạo ra các nguyên tử oxy hoạt động phá hủy màng lipid và protein của tyrosinase.

Hiệu quả trị nám xuất hiện trong vòng 3 tuần khi bôi 2 lần/ngày, sử dụng tối đa trong vòng 5-7 tuần, những sản phẩm không chứa chất chống oxy hóa không nên sử dụng quá 30 ngày. Tác dụng phụ của HQ gồm viêm da tiếp xúc kích ứng và không kích ứng, tăng sắc tố da sau viêm và biến màu móng tay, những triệu chứng như kích ứng, cảm giác châm chích và/hoặc bỏng rát sẽ diễn ra xuyên suốt từ ngày đầu tiên đến khi kết thúc điều trị vài ngày.

Glutathione

Glutathione là một tripeptid trọng lượng phân tử thấp có chứa liên kết sulfhydryl (-SH), được tạo thành từ 3 acid amin cysteine, glutamic và glycine, có sẵn trong động vật có vú với vai trò như một chất chống oxy hóa, bảo vệ da khỏi tác động của tia UV và có tác dụng làm trắng da. Trong cơ thể tổn tại chuyển đổi lẫn nhau giữa 2 dạng khử (GSH) và dạng oxy hóa (GSSG) thông qua 2 enzym glutathione peroxidase và glutathione reductase. Glutathione ức chế quá trình glycosyl hóa tyrosinase, ngăn chặn sự trưởng thành và di chuyển tyrosinase đến tiền thân của melanosome. Có nhiều những giả thuyết khác nhau về cơ chế hoạt động của glutathione như tạo phức chelat với nguyên tử đồng của tyrosinase, thay đổi vị trí tương tác giữa nhóm thiol với DOPE-quinone, dẫn tới hình thành phức hợp sulfhydryl-DOPA, làm giảm tổng hợp eumelanin tối màu và tăng tổng hợp pheomelanin sáng màu hơn., làm dịu các gốc oxy hóa tự do và peroxid nhờ tác động chống oxy hóa hay điều chỉnh khả năng làm sáng da của các tác nhân gây độc cho tế bào melanocyte.

Arbutin và Deoxyarbutin

Arbutin là dẫn xuất của HQ, có nguồn gốc từ thực vật. Arbutin sử dụng hiệu quả trong việc điều trị các rối loạn do tăng sắc tố, ít độc trên melanocyte hơn HQ. Hợp chất ức chế quá trình tổng hợp melanin bằng cách cạnh tranh và đảo ngược sự gắn kết của tyrosinase mà không làm ảnh hưởng đến quá trình phiên mã ra mARN của tyrosinase; ngăn cản quá trình trưởng thành của melanosome và ức chế hoạt động của DHICA polymerase. Tác dụng dịu nhẹ của arbutin là do sự phóng thích có kiểm soát của HQ khi liên kết glycosid bị cắt đứt, nồng độ càng cao tác dụng càng mạnh nhưng dễ dẫn đến tăng sắc tố nghịch lý, trong các sản phẩm sản thường sử dụng là 3%. Deoxyarbutin là dạng tổng hợp của arbutin bỏ đi nhóm –OH, là một phương pháp đầy hứa hẹn để trị chứng tăng sắc tố da. Deoxyarbutin ức chế thuận nghịch hoạt động của enzym tyrosinase, làm trắng da và không phá hủy vĩnh viễn các melanocyte. Vì là dẫn xuất thế hệ 2, ức chế quá trình hydroxyl hóa của tyrosinase và hoạt động của DOPAoxidase tyrosinase phụ thuộc vào liều lượng, deoxyarbutin có khả năng thấm qua da cao hơn và ái lực kết dính cũng mạnh hơn so với những chất khác.

Acid kojic

Acid kojic là hợp chất thân nước tự nhiên chiết xuất từ nấm Acetobacter, AspergillusPenicillum, có công thức phân tử là C6H6O4/C6H6O5. Acid kojic bất hoạt tyrosinase bằng cách tạo phức chelat với phân tử đồng cũng như làm giảm sự hỗn biến của dopachrome thành DHICA, rất phổ biến trong điều trị nám và có một số tác dụng phụ như quá mẫn, viêm da tiếp xúc và nổi ban đỏ. Mặt khác, nhiều dẫn xuất ổn định của acid kojic đã được tổng hợp, tăng khả năng xâm nhập vào da và hiệu lực làm mờ các đốm sắc tố. Hiện nay, acid kojic và dẫn xuất được sử dụng trong rất nhiều mỹ phẩm trị tàn nhang, đồi mồi, tăng sắc tố da và mụn, nồng độ thường dùng là từ 2-4%, có khi được kết hợp với HQ 2% trong nền gel AHA.

Acid kojic dipalmitat là một dẫn xuất của acid kojic điển hình thường được sử dụng, có tính thân dầu và dễ dàng hấp thu qua da, bền với ánh sáng, nhiệt độ, kim loại nặng; giữ được hoạt tính ức chế men tyrosinase và ngăn sự hình thành melanin.

Acid azelaic

Acid azelaic là hợp chất có nguồn gốc tự nhiên từ nấm Pityrosporum ovale, mạch thẳng, không độc, ức chế hoạt động của men tyrosinase, tác động chọn lọc trên quá trình tổng hợp ADN và hoạt động của ty thể ở những tế bào melanocyte bất thường. Acid azelaic được dùng để trị nám và tăng sắc tố sau viêm, ngăn ngừa quá trình biến đổi từ sạm da do sắc tố sang ung thư da.

Kem chứa acid azelaic được dùng trong điều trị nám da dùng 2 lần mỗi ngày, đa phần bệnh nhân sẽ gặp tác dụng phụ như kích ứng và đỏ da nhẹ khi bắt đầu điều trị nhưng tình trạng này chỉ mang tính tạm thời. Các nghiên cứu đã cho thấy acid azelaic nồng độ 20% cho hiệu quả tương đương hoặc mạnh hơn hydroquinon 2%. Acid azelaic với tretinoin cho tác dụng trắng da tốt hơn acid azelaic dùng riêng lẻ sau 3 tháng và tỉ lệ thành công cuối đợt điều trị cũng cao hơn. Điểm mạnh riêng của liệu trình điều trị bằng acid azelaic là tính an toàn và ít tác dụng phụ, không gây quái thai, không có tác dụng phụ mang tính hệ thống hay phản ứng quang động học, dùng tại chỗ dung nạp tốt, không đề kháng P.acnes và hiệu quả trên những bệnh nhân không đáp ứng với HQ đơn lẻ.

Vitamin C và Magnesium-L-Ascorbyl-2-Phosphate

Vitamin C từ các trái cây chua và các loại rau củ xanh là chất chống oxy hóa tuyệt vời, tác động vào quá trình tổng hợp melanin bằng cách giảm quá trình oxy hóa DOPAquinon, cản trở sự oxy hóa DHICA và tương tác với đồng tại vị trí hoạt động của tyrosinase. Vitamin C đóng vai trò như một chất thu gom các gốc oxy hóa bằng cách góp các electron tự do trong phần thân nước của tế bào để trung hòa lại, thường kết hợp với HQ trong các sản phẩm làm trắng da, những sản phẩm dạng này đáp ứng tốt trên mọi loại da.

Vitamin C rất kém bền, nhanh chóng bị oxy hóa và phân hủy trong dung dịch nước, chính vì vậy mà khó thâm nhập vào da trừ khi lớp sừng bên ngoài bị tổn thương. Ester ascorbat của vitamin C – Magnesium-L-Ascorbyl-2-Phosphat (MAP) ổn định hơn, thân dầu và thấm được qua lớp sừng, MAP sau đó sẽ bị thủy phân bởi phosphatase trong da thành vitamin C và cho tác dụng. Trong nghiên cứu của mình, Hakozaki đã dùng sóng siêu âm để tăng sự thâm nhập và hiệu quả sử dụng của vitamin C cùng dẫn xuất – ascorbyl glucosid và niacinamid.

nguồn gốc từ cây Dương kỳ thảo, kích hoạt Rho trực tiếp hay gián tiếp và làm giảm sự vận chuyển melanosome.

Niacinamide

Niacinamide là dạng có hoạt tính sinh học của vitamin B3 – tiền thân của NADH và NADPH. Niacinamide tác động lên sự tương tác của melanocyte và keratinocyte, điều chỉnh PAR-2 (protease-activated receptor), làm giảm quá trình vận chuyển melanosome từ 35 – 68%. Thử nghiệm lâm sàng sử dụng niacinamide 2% cho tác dụng làm giảm các chứng tăng sắc tố rõ rệt sau 4 tuần sử dụng. Hơn nữa, khi kết hợp với kem chống nắng sử dụng hàng ngày, hiệu quả làm trắng da càng rõ ràng hơn khi sử dụng kem chống nắng riêng lẻ. Niacinamide cũng được dùng để làm giảm các tổn thương do ánh nắng ở làn da châu Á, nồng độ 5% giúp cải thiện đáng kể những đốm tăng sắc tố trên mặt. Tác dụng của niacinamide còn thể hiện ở khả năng kháng viêm, ngăn ngừa suy giảm hệ miễn dịch do ánh sáng, tăng cường tổng hợp lipid nội bào, cải thiện chức năng hàng rào bảo vệ và sự lão hóa trên da (kết cấu, tăng sắc tố, đỏ, đường nhăn da và nếp nhăn), giảm sản sinh bã nhờn.

Alpha hydroxy acid (AHA)

AHA là các acid hữu cơ yếu thường thấy trong trái cây, thực vật và đường sữa. Đã từ rất lâu, AHA được sử dụng như những chất tẩy tế bào chết ở nồng độ thấp, hiệu quả trên da khô, da bị tổn thương do mụn, cải thiện màu và kết cấu da. Ở nồng độ cao hơn, AHA trực tiếp ức chế tyrosinase, thúc đẩy sự bong tróc của biểu bì và phân tán melanin trong lớp đáy, hữu hiệu trong điều trị nám da, tàn nhang và chứng tăng sắc tố sau viêm. Sinh khả dụng của AHA tăng lên khi pH giảm (thường là 2,8 – 4,8), tác dụng tẩy tế bào chết chỉ tồn tại ngắn và rất dễ dàng bị trung hòa lại.

Retinoid

Retinoid dùng để chỉ những dẫn chất tự nhiên và tổng hợp của vitamin A. Tretinoin (đồng phân acid retinoic ở dạng trans) cùng với những dẫn xuất naphthalen như tazaroten, bexaroten, adapalen là những retinoid kê toa thường dùng. Retinoid dạng dùng tại chỗ thường được chỉ định cho các chứng lão hóa, mụn và rối loạn sắc tố da, tuy nhiên những sản phẩm này dễ gây dị ứng da và không sử dụng được ở một số bệnh nhân, retinaldehyde (RAL) và retinol (ROL) dịu nhẹ hơn mà vẫn giữ được hoạt tính nên thường được sử dụng như liệu pháp thay thế. Retinoid dùng tại chỗ giảm các chứng tăng sắc tố nhờ vào các cơ chế sau, ức chế sự phiên mã của tyrosinase, giảm sự di chuyển melanosome từ melanocyte sang keratinocyte; ngoài ra, retinoid giảm thời gian tương tác giữa keratinocyte và melanocyte và thúc đẩy chu trình tế bào biểu bì. Tretinoin thường được sử dụng trong kem bôi da ở nồng độ 0,1% kết hợp với 5% HQ và 0,1% dexamethasone. Trong công thức này, tretinoin đóng vai trò như một chất kích thích chu trình tế bào biểu bì, giảm sắc tố da, đồng thời cũng là chất chống oxy hóa giảm kích ứng da do HQ và giúp HQ thâm nhập qua lớp biểu bì tốt hơn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *