Các hợp chất hoạt động trong các sản phẩm mỹ phẩm dùng đường uống

Phytoestrogen

Phytoestrogen là những hợp chất thực vật không steroid polyphenolic có hoạt tính sinh học giống như estrogen, được phân thành bốn nhóm chính dựa trên cấu trúc hóa học là isoflavonoid, flavonoid, stilbene và lignan. Do các phytoestrogen có cấu trúc tương tự như estrogen 17 β-estradiol nên chúng thể hiện hoạt tính điều chỉnh estrogen chọn lọc.

Đối với phụ nữ, đặc biệt là giai đoạn sau mãn kinh, tốc độ lão hóa gia tăng theo thời gian do sự mất estrogen dẫn đến mất nhanh collagen trong giai đoạn đầu sau khi mãn kinh. Người ta cho rằng các phytoestrogen như các isoflavone đậu nành có thể bắt chước những tác động của estrogen trong da và giảm các thay đổi da ở phụ nữ sau mãn kinh. Một nghiên cứu mù đôi trên 26 phụ nữ trung niên cho thấy khi uống 40mg các aglycone isoflavone đậu nành mỗi ngày cải thiện các nếp nhăn sâu ở khóe mắt sau khi bổ sung 12 tuần so với ban đầu. Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể ở các nếp nhăn sâu giữa nhóm điều trị tích cực và nhóm dùng giả dược, điều này có thể cho thấy sự cải thiện quan sát được trong các nhóm điều trị tích cực đã bị ảnh hưởng do những thay đổi theo mùa.

Đã chứng minh được rằng liệu pháp thay thế hormone có hệ thống (HRT) với estrogen, hoặc kết hợp estrogen-glucocorticoid ở phụ nữ sau mãn kinh cải thiện sự xuất hiện những lão hóa trên da, giúp giảm nhão da, nhăn da và thô ráp. Ở cấp độ hiển vi, HRT dường như ảnh hưởng chủ yếu đến collagen da, tăng số lượng collagen và độ dày của da. Tuy nhiên cần lưu ý, HRT có tương quan với nguy cơ gia tăng ung thư. Hơn nữa, HRT là phương pháp trị liệu bằng thuốc và chắc chắn không thể được phân loại như là một mỹ phẩm dạng uống.

Glycosaminoglycan

Có ý kiến ​​cho rằng chiết xuất từ ​​sụn cá biển có tác dụng khắc phục những hư hại trên da do ánh sáng. Trong một nghiên cứu mở, 10 phụ nữ có làn da bị hư hại do ánh nắng mặt trời được điều trị với 0,5g dẫn xuất glycosaminoglycan (Imedeen, Soeberg, Đan Mạch) mỗi ngày trong vòng 90 ngày. Sau 90 ngày điều trị, tất cả các dấu hiệu hư hỏng đã được cải thiện và độ giòn của tóc và móng tay đã trở về bình thường ở tất cả các trường hợp. Những quan sát lâm sàng này được xác nhận thông qua những thay đổi về độ dày của da và độ đàn hồi, tuy nhiên, kết quả thu được có thể đã bị sai lệch bởi những thay đổi theo mùa do nhóm đối chứng không có trong nghiên cứu. Trong một nghiên cứu mù đôi, có đối chứng với giả dược, 30 phụ nữ trong độ tuổi tương tự và có dấu hiệu tương tự được điều trị với các dẫn xuất glycosaminoglycans 0,5g/ ngày hoặc giả dược trong vòng 90 ngày. Các kết quả trong nhóm được điều trị với glycosaminoglycan tương đương với nghiên cứu đầu tiên, trong khi không có sự đáp ứng với điều trị ở nhóm dùng giả dược. Kieffer và cộng sự cho thấy sau ba tháng điều trị với các dẫn xuất glycosaminoglycans (Imedeen) không có sự cải thiện đáng kể so với giả dược hoặc không điều trị. Nghiên cứu được tiếp tục trong 9 tháng nữa trong một thiết kế mở tức là, không cần sử dụng một nhóm đối chứng. Sau một năm điều trị, cải thiện đáng kể so với ban đầu trong đánh giá của điều tra viên trên các rãnh nhăn nhỏ và lão hóa tổng thể và trong các phép đo mật độ bằng siêu âm, mất nước xuyên biểu bì và độ mịn của da.

Eskelinen và Santalahti đã nghiên cứu ảnh hưởng của dạng uống các polysaccharides từ sụn tự nhiên (Vivida, Helsinki, Phần Lan) trên da bị hư hại do mặt trời ở 15 phụ nữ tuổi từ 40-60. Sau 90 ngày điều trị, cải thiện đáng kể so với ban đầu ở nhóm điều trị tích cực thông qua đánh giá lâm sàng về tình trạng da tương ứng (ví dụ như khô, mỏng, nếp nhăn), độ dày của trung bì và biểu bì thông qua sóng siêu âm và chỉ số đỏ da, trong khi không có sự thay đổi nào ở nhóm dùng giả dược.

Acid orthosilicic ổn định với choline

Acid orthosilicic ổn định với choline (ch-OSA) là một phức hợp đặc biệt với sinh khả dụng cao và tác động của ch-OSA trên mô liên kết (ví dụ xương và da) đã được đánh giá trong các nghiên cứu trên động vật và các nghiên cứu lâm sàng có đối chứng với giả dược. Ch-OSA là một dạng cô đặc đặc biệt của axit orthosilicic với choline là chất ổn định. Nồng độ sinh lý của axit orthosilicic cho thấy kích thích tổng hợp collagen type I trong các nguyên bào sợi của da trong phòng thí nghiệm. Choline là một tiền chất của các phospholipid như choline phosphatidyl, một thành phần thiết yếu của màng tế bào.

Bổ sung cho những động vật còn nhỏ với liều lượng thấp ch-OSA giúp lượng hydroxyproline cao hơn đáng kể ở lớp hạ bì và làm gia tăng mật độ xương đùi. Sử dụng đường uống ch-OSA trong 20 tuần ở 50 phụ nữ có da lão hóa quang hóa đem lại hiệu quả tích cực cho da và cải thiện các thuộc tính cơ học của da so với nhóm dùng giả dược, cho thấy sự tái tạo hoặc tổng hợp các sợi collagen ở lớp trung bì. Đánh giá trên độ giòn của tóc và móng tay trên một quy mô tương tự cho thấy sự cải thiện đáng kể ở nhóm ch-OSA, trong khi không thấy sự thay đổi ở nhóm dùng giả dược.

Hiệu quả của ch-OSA trên tóc đã được tiếp tục điều tra trong một nghiên cứu có đối chứng với giả dược, mù đôi, ngẫu nhiên trên 48 phụ nữ với mái tóc tốt. Hình thái tóc và các thuộc tính căng dãn của tóc được đánh giá trước và sau điều trị bằng các phương pháp đã được phê chuẩn. Sử dụng đường uống ch-OSA có tác động tích cực đến độ chắc khỏe của tóc như tính đàn hồi và kết quả là tóc dày hơn. Các tác giả cho rằng sự gia tăng quan sát được tại mặt cắt ngang của sợi tóc sau khi bổ sung ch-OSA có thể được giải thích là do kích thích tổng hợp collagen của nguyên bào sợi ở trung bì nhú.

Axit béo không bão hòa

Nguồn thực phẩm thường gặp của các axit béo poly không bão hòa n-3 (PUFA) là dầu gan cá, dầu cá và các động vật biển với lượng chất béo cao, chẳng hạn như cá thu, cá hồi và cá mòi dầu. Một vài nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả bảo vệ khỏi tác động của ánh sáng của dầu cá. Orengo và cộng sự đã quan sát thấy sự gia tăng nhỏ nhưng có ý nghĩa thống kê trong MED sau khi sử dụng khẩu phần ăn giàu dầu cá trong vòng 4 tuần, cho thấy rằng với liều tương đối thấp (2,8g axit eicosapentaenoic và 1,2g axit docosahexaenoic) của dầu cá có tác động bảo vệ khỏi ánh sáng mặt trời. Trong một nghiên cứu khác, tiêu thụ dầu cá (10g mỗi ngày) cũng cho thấy giúp giảm đỏ da do chiếu xạ UV nhưng sự nhạy cảm của da với sự peroxy hóa lipid được gia tăng do tính chất không ổn định của các acid béo n-3.

Các axit béo trong chế độ ăn uống đã được báo cáo là có khả năng thay đổi các thành phần acid béo của các phospholipid màng của các tế bào miễn dịch, có thể điều chỉnh các chức năng của các tế bào này. Một vài nghiên cứu đã được công bố, trong đó đánh giá hiệu của PUFA trong các test kiểm tra quá mẫn loại trì hoãn (DTH) sử dụng các kháng nguyên đã được chấp nhận như là một phương tiện quan trọng để theo dõi khả năng miễn dịch qua trung gian tế bào trên lâm sàng. Tuy nhiên, các kết quả khác nhau đã thu được trong các nghiên cứu liên quan đến hiệu quả trên đáp ứng của da với DTH, giúp minh họa cho việc nhiều nghiên cứu cần được tiến hành để ghi lại hoạt động miễn dịch của PUFA.

Lợi ích quan trọng nhất của việc sử dụng n-3 PUFA đường uống từ dầu cá có thể là do tác động chống viêm của chúng. Những tác động của n-3 PUFA đã được báo cáo là kết quả của sự cạnh tranh của chúng với n-6 PUFA như một chất nền cho cyclooxygenase và lipoxygenase, dẫn đến sự hình thành các prostaglandin ít hoạt động và các leukotriene. Can thiệp với tầng viêm trong da có thể xảy ra thông qua việc giảm sự tổng hợp các chất trung gian lipid gây viêm hoặc thông qua việc giảm sản xuất các cytokine. Hơn nữa, n-3 PUFA không ổn định và có thể bị hư hỏng do các gốc tự do, do đó bảo vệ các cấu trúc khác khỏi sự tấn công của các gốc tự do. Tuy nhiên, để bảo vệ da chống lại sự hình thành quá mức của các gốc tự do và sự peroxit hóa lipid, số lượng thích hợp các chất chống oxy hóa cũng cần được tiêu thụ.

Bổ sung đa thành phần

Murad và Tabibian đã tiến hành một nghiên cứu mù đơn, ngẫu nhiên trên 72 phụ nữ để đánh giá hiệu quả về độ thô ráp của da sau 5 tuần bổ sung kết hợp các glucosamine, các axit amin, khoáng chất và các hợp chất chống oxy hóa khác nhau. Những phụ nữ không được bổ sung các thành phần này là nhóm đối chứng, tức là không có sử dụng giả dược để làm nhóm đối chứng. Sự giảm có ý nghĩa thống kê về số lượng các nếp nhăn nhìn thấy được và các rãnh nhăn đã được quan sát thấy trong các nhóm điều trị tích cực nhưng không thấy trong nhóm đối chứng. Không có thay đổi đáng kể về sự hydrat hóa biểu bì trong cả nhóm đối chứng và nhóm điều trị tích cực.

Skovgaard và cộng sự đã điều tra hiệu quả của việc bổ sung chế độ ăn uống mới (Imedeen Prime Renewal, Soeberg, Đan Mạch) trong một nghiên cứu có đối chứng giả dược trên da của hàng trăm phụ nữ sau mãn kinh. Bổ sung các thành phần như chiết xuất đậu nành, các polysaccharides protein cá, chiết xuất trà trắng, hạt nho và chiết xuất cà chua, vitamin C và E, cũng như kẽm và chiết xuất hoa cúc. Mức độ lâm sàng về tình trạng da và mật độ của da được đo bằng cấu trúc siêu âm cho thấy cải thiện sau 6 tháng bổ sung các chất hoạt động, nhưng không cải thiện ở nhóm giả dược.

Hiệu quả của việc bổ sung kết hợp qua đường uống các protein từ biển với kẽm, đồng, các vitamin C, E, B3, B5, acid α- lipoic, chiết xuất từ vỏ cây thông, chiết xuất cỏ ba lá đỏ, chiết xuất cà chua và chiết xuất từ đậu nành (DermaVite, Florida, USA) đã được thử nghiệm trong một nghiên cứu có đối chứng với giả dược ở 40 phụ nữ có da lão hóa. Có sự gia tăng đáng kể trong độ dày của da và độ đàn hồi sau 6 tháng bổ sung các chất hoạt động nhưng không thấy ở nhóm dùng giả dược. Sự cải thiện đáng kể trong việc đánh giá tổng quát về tình trạng da bằng cách sử dụng mô hình tương tự cũng được quan sát thấy trong các nhóm điều trị tích cực sau 6 tháng bổ sung, trong khi không thấy sự thay đổi ở nhóm dùng giả dược.

62 phụ nữ độ tuổi từ 45 đến 73 tuổi tham gia trong một thử nghiệm mù đôi có đối chứng với giả dược để đánh giá hiệu quả của sự kết hợp vitamin C và E, carotenoid, selen, kẽm, axit amin, glycosaminoglycan, chiết xuất từ quả việt quất, và Pycnogenol tương ứng. So với giả dược, nhận thấy điều trị tích cực giúp cải thiện mật độ da và độ thô ráp của da sau 6 đến 12 tuần bổ sung.

QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN CÁC MỸ PHẨM ĐƯỜNG UỐNG

Khi các mỹ phẩm đường uống được bổ sung vào chế độ ăn uống (thực phẩm bổ sung) tức là quy định về bổ sung mỹ phẩm cũng cần được đưa ra. Sự khác biệt đáng kể trong quy định này tồn tại giữa các nước khác nhau đối với liều tối đa với các dạng hóa học của các vitamin và khoáng chất, các loài thực vật, và các yêu cầu sản phẩm, được cho phép sử dụng để bổ sung vào chế độ ăn uống. Trong cộng đồng châu Âu, quy định về cả thực phẩm bổ sung và các yêu cầu về sức khỏe gần đây đã được hòa hợp cho các nước thành viên khi Hướng dẫn của ủy ban châu Âu (EC) về việc bổ sung thực phẩm (ví dụ Chỉ thị 2002/46 / EC) và Quy chế về dinh dưỡng và các yêu cầu về sức khỏe (ví dụ Quy định 1924/2006) có hiệu lực.

KẾT LUẬN

Phòng tránh ánh nắng và việc sử dụng các loại kem chống nắng cũng được thực hiện như là yếu tố chính trong các phác đồ chống lão hóa, mặc dù điều này vẫn bị đánh giá thấp ở nhiều người. Rõ ràng, việc tránh mặt trời không là điều không dễ dàng. Nhu cầu theo định hướng của người tiêu dùng đã dẫn đến sự phát triển của các sản phẩm nhằm chống lại các dấu hiệu lão hóa da. Thực phẩm chức năng có vai trò như một chất tăng cường vẻ đẹp, là một khái niệm gần đây ở các nước phương Tây. Sự phát triển của nhiều loại mỹ phẩm mới hoặc bổ sung vào chế độ ăn uống, trong đó đặc biệt vào da, tóc và móng tay (mỹ phẩm đường uống) là một trong những cách thú vị và hứa hẹn nhất trong tương lai. Nghiên cứu quan trọng và kinh nghiệm đầu tay của bác sĩ đã cho thấy rằng việc sử dụng các loại kem bôi kết hợp với chế độ ăn uống bổ sung dẫn đến kết quả vượt trội hơn so với cách sử dụng hoặc chăm sóc da, bổ sung đơn độc. Điều này có thể là một bất ngờ cho nhiều người tiêu dùng khi mà chỉ có vài thành phần trong các sản phẩm chăm sóc da tại chỗ có khả năng thâm nhập đủ sâu vào lớp trung bì để cải thiện các nếp nhăn sâu. Do đó, sử dụng kết hợp mỹ phẩm bôi và uống nhiều khả năng sẽ được chỉ định trong tương lai gần để phát triển các liệu pháp chống lão hóa hiệu quả.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *